hỗ trợ trực tuyến

Báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2016 và kết quả thực hiện Ba nhiệm vụ trọng tâm, Năm giải pháp cơ bản của Ngành năm 2016

Ngày viết: 11/10/2016 05:11

Thực hiện Công văn số 1545/SYT-NVY ngày 05/7/2016 của Sở Y tế Quảng Ninh về việc hướng dẫn tự kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trọng tâm và chức năng nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2016; Bệnh viện Sản Nhi xin báo cáo kết quả triển khai công tác tự kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện như sau:

I. THỰC HIỆN BA NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA NGÀNH NĂM 2016:

1. Thực hiện nhiệm vụ chính trị, các chỉ tiêu kế hoạch do Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh giao:

Được sự quan tâm của các cấp có thẩm quyền, đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo của Sở Y tế, ngay từ đầu năm Bệnh viện đã xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động cho năm 2016.

Bệnh viện đã phổ biến, quán triệt đến các khoa, phòng về phương hướng các nhiệm vụ, thực hiện các mục tiêu đề ra để có kết quả cao nhất chào mừng thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 và hưởng ứng Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV. Chỉ đạo nghiêm túc thực hiện các chủ trương của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và Sở Y tế giao.

Trong 6 tháng đầu năm, Bệnh viện đã chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ với tinh thần cao nhất, kết quả đạt được như sau:

a) Thực hiện các chỉ tiêu chuyên môn:

Bệnh viện được xây dựng mới, đồng bộ, hiện đại, qua 6 tháng bệnh viện đã thực hiện các chỉ tiêu chuyên môn đạt và vượt kế hoạch (Bệnh nhân điều trị Nội trú Nhi đạt tỷ lệ 101,02%), một số chỉ tiêu khác đạt tỷ lệ trên 80% so với kế hoạch đề ra năm 2016.

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm 2016

Kế hoạch

Thực hiện 6 tháng

Tỷ lệ %

1

Giường bệnh nội trú

Giường

200

310

 

2

Ngày sử dụng giường/tháng

Ngày

30

30

 

 

Tổng số ngày điều trị

Ngày

66.556

 

3

Ngày điều trị TB 1 bệnh nhân

Ngày

7

6,63

 

4

Tổng số lần khám bệnh, trong đó:

Lần

83.000

60.422

72,80

 

Số lần khám Phụ- Sản

Lần

48.000

30.188

62,89

 

Số lần khám Nhi

Lần

35.000

30.234

86,38

5

Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú

Lượt

10.500

10.039

95,61

 

Số Bệnh nhân Phụ Sản

Lượt

5.500

4.263

77,51

 

Số bệnh nhân Nhi

Lượt

5.000

5.776

115,52

6

Tổng số lần xét nghiệm các loại

Lần

320.000

246.408

77,00

7

Xét nghiệm Sàng lọc Sơ sinh

Ca

1.000

799

79,90

8

Tổng số lần chụp X quang

Lần

15.000

15.129

100,86

9

Tổng số lần chụp CT Scanner

Lần

1.300

882

67,85

10

Tổng số lần siêu âm

Lần

50.000

31.773

63,55

11

Tổng số phẫu thuật

Lần

4.000

2.514

62,85

12

Số lần nội soi chẩn đoán các loại

Lần

6.500

4.232

65,11

13

Số ca đẻ (bao gồm mổ đẻ)

Ca

4.000

2.357

58,93

b) Thực hiện các kỹ thuật chuyên môn:

Có nhiều kỹ thuật tương đương tuyến trung ương đã được triển khai tại bệnh viện:

* Về Lâm sàng:

- Phẫu thuật nội soi điều trị vô sinh;

- Phẫu thuật nội soi cắt tử cung, cắt buồng trứng;

- PTNS một lỗ;

- PTNS lồng ngực trẻ dưới 12 tháng;

- Phẫu thuật nhiều loại dị tật bẩm sinh ở trẻ.

- Lọc máu liên tục trẻ sơ sinh;

- Thở máy HFO; Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm từ tĩnh mạch ngoại vi

- Điều trị Tâm bệnh và Phục hồi chức năng cho các trẻ bại não, trẻ tự kỷ.

- Phát hiện và điều trị một số dị tật tim và bệnh tim ở trẻ nhỏ. Tiếp nhận những trẻ đã phẫu thuật tim từ tuyến trên chuyển về điều trị.

* Về Cận lâm sàng:

- Xét nghiệm Real-time PCR chẩn đoán các chủng Virus (HPV, HBV, sởi, EBV, RSV); Vi khuẩn (Mycoplasma)

- Xét nghiệm chẩn đoán hai bệnh, suy giáp trạng bẩm sinh, rối loạn chuyển hóa men G6PD;

- Sàng lọc ung thư sớm bằng phương pháp Thin Prep PAP test;

- Sàng lọc trước sinh (Double test và Triple test, siêu âm chẩn đoán trước sinh);

- Điện di huyết sắc tố;

- Xét nghiệm đánh giá thiếu máu sản khoa, nhi khoa (Fe. Folac. feritin)

- Các xét nghiệm phục vụ hỗ trợ sinh sản: Bộ nội tiết nam- nữ, đặc biệt xét nghiệm AMH đánh giá dự trững buồng trứng;

- Kỹ thuật sinh thiết cắt lạnh.

* Hoạt động Hỗ trợ sinh sản:

- Thực hiện kỹ thuật IUI: Từ khi BV vào hoạt động đã làm 741 ca

- Thành công của kỹ thuật: có thai 193 ca

- Đến hết tháng 6 sinh được 71em bé sống khoẻ mạnh

- Hiện nay 107 bà mẹ đang mang thai và được theo dõi quản lý thai nghén tại bệnh viện.

- Hiện đang chuẩn bị thực hiện đề án thụ tinh trong ống nghiệm IVF.

c) Công tác Đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh:

Ngày 23/02/2016, Đoàn cán bộ Bộ Y tế do đồng chí Phạm Văn Tác, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ làm Trưởng đoàn đã đến kiểm tra việc triển khai thực hiện Quyết định 2151/2015/QĐ-BYT ngày 4/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế về “Đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” tại Bệnh viện, kết quả đạt 92/100 (10 điểm/1 tiêu chí) đạt loại xuất sắc.

Nhân dịp kỷ niệm 61 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2 (1955-2016) với chủ đề “Y tế Việt Nam - Đổi mới phục vụ, Hội nhập và Phát triển”, Bệnh viện vinh dự được Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Bằng khen có thành tích trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đổi mới phong cách phục vụ và giảm tải bệnh viện.

d) Công tác phát triển KHCN:

Bệnh viện đã thực hiện được nhiều kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu về lâm sàng và cận lâm sàng của tuyến TW, giúp bệnh nhân được khám chữa bệnh bằng kỹ thuật cao ngay tại tỉnh, gần 98% bệnh nhân thuộc chuyên khoa Phụ Sản và Nhi khoa được khám và điều trị tại tỉnh không phải chuyển tuyến trên.

Tham gia Đề án Bệnh viện vệ tinh, đã tích cực triển khai nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật chuyên sâu của tuyến TW để giải quyết được những ca bệnh khó, phức tạp; tạo điều kiện cho người bệnh không phải chuyển tuyến, góp phần có hiệu quả giảm tải cho tuyến trên; xứng tầm với một bệnh viện đầu ngành về chuyên khoa Sản và Nhi của tỉnh. Số lần thực hiện các dịch vụ, kỹ thuật chuyên khoa đều đạt từ 150- 200% kế hoạch đề ra.

Bệnh viện đang thực hiện Dự án Đầu tư cơ sở vật chất ứng dụng công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) giai đoạn 2016- 2017, với sự hỗ trợ và chuyển giao của Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản Quốc gia, tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả điều trị vô sinh tại Quảng Ninh.

Bệnh viện được giao nhiệm vụ khoa học “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi ổ bụng và nội soi buồng tử cung trong chẩn đoán và điều trị vô sinh tại Quảng Ninh” giai đoạn 2015- 2016 theo Quyết định số 1781/QĐ-UBND, đã tiến hành phẫu thuật cho 80 bệnh nhân (theo kế hoạch là 90 BN).

Từ năm 2015, bệnh viện đã thực hiện 18 Đề tài NCKH cấp cơ sở và 01 Sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đã nghiệm thu 16 đề tài và 01 sáng kiến. Ngoài các bác sỹ tham gia NCKH, các điều dưỡng và KTV cũng tích cực tham gia trong các nhóm nghiên cứu, có 02 Đề tài NCKH và 01 Sáng kiến cải tiến do ĐD và KTV là chủ nhiệm đề tài, các nghiên cứu và sáng kiến có giá trị cao trong lâm sàng.

Tham gia Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Quảng Ninh lần thứ V, Bệnh viện Sản Nhi có 02 giải pháp đạt giải: “Ứng dụng Phẫu thuật nội soi ổ bụng 1 lỗ điều trị các bệnh lý ngoại khoa và sản khoa” đạt giải Ba; “Điều trị hiếm muộn bằng phương pháp lọc rửa tinh trùng, bơm tinh trùng vào buồng tử cung tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh” đạt Giải Khuyến khích.

e) Công tác tiếp nhận, chuyển giao công nghệ từ Đề án Bệnh viện vệ tinh:

Duy trì, thực hiện tốt Đề án vệ tinh của Bệnh viện Phụ Sản Trung ương và Bệnh viện Nhi TW. Tính đến nay bệnh viện Phụ Sản TW đã cử 35 lượt cán bộ, bệnh viện Nhi TW đã cử 27 lượt cán bộ xuống chuyển giao kỹ thuật, các bài giảng hội chẩn đều được phổ biến đến các BV trong tỉnh thông qua Telemedicin.

Nhờ triển khai tích cực Đề án bệnh viện vệ tinh đã thu hút, đào tạo phát triển khoa học kỹ thuật, bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh đã có những bước phát triển nhanh chóng về chuyên môn kỹ thuật, đến nay bệnh viện đã thực hiện được nhiều kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu về lâm sàng và cận lâm sàng của tuyến TW, giúp bệnh nhân được khám chữa bệnh bằng kỹ thuật cao ngay tại tỉnh, gần 98% bệnh nhân thuộc chuyên khoa Phụ Sản và Nhi khoa được khám và điều trị tại tỉnh không phải chuyển tuyến trên.

f) Công tác xây dựng Đảng:

- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng

+ Chủ động nắm bắt tình hình, diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên tại bệnh viện. Nhìn chung, tình hình chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên trong chi bộ ổn định, chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nội quy, quy định của Bệnh viện.

+ Phổ biến, quán triệt đầy đủ các văn bản cấp trên đến toàn thể đảng viên trong chi bộ:

+ Tuyên truyền phổ biến đến toàn thể đảng viên và quần chúng về luật bầu cử Đại biểu quốc hội bằng các hình thức: băng zôn, phát thanh nội bộ..

+ Tuyên truyền việc “Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh” theo chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ chính trị.

- Tổ chức đảng, đảng viên

+ 6 tháng đầu năm, đã tổ chức kết nạp Đảng cho 04 quần chúng ưu tú

+ Tổng số đảng viên tính đến thời điểm hiện tại là 27 đảng viên.

Trong đó: 20 Đảng viên chính thức; 07 Đảng viên dự bị (02 Đảng viên dự bị được kết nạp năm 2015).

+ Xây dựng và ban hành Chương trình công tác kiểm tra, giám sát. Quy chế hoạt động của chi bộ, xây dựng chuyên đề sinh hoạt hàng quý.

+ Chi bộ có 01 đảng viên đang học cao cấp chính trị; 01 đảng viên tham gia lớp trung cấp lý luận chính trị. Đã cử 05 quần chúng ưu tú học lớp nhận thức về Đảng do Đảng ủy khối quan tổ chức.

+ Ban hành quy định sinh hoạt chi bộ, điều chỉnh thời gian thực hiện nền nếp sinh hoạt của chi bộ trước ngày mùng 3 hàng tháng.

- Kiểm tra, giám sát

+ Đã tiến hành kiểm tra đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị của cấp ủy cấp trên và các nhiệm vụ được giao.

+ Trong 6 tháng, không có đảng viên bị kỷ luật.

g) Hoạt động Công đoàn, Công tác xã hội và Đoàn Thanh niên:

Duy trì lớp mẫu giáo cho con em CBVC, lao động của Bệnh viện; Bố trí các cán bộ thuộc diện thu hút vào ở nhà công vụ.

Thành lập Tổ Công tác xã hội dựa trên nòng cốt cán bộ công đoàn và đoàn thanh niên. Đã vận động được kinh phí cho “Nồi chào từ thiện” tại bệnh viện vào Thứ Ba hàng tuần với 100 suất, trị giá 1 triệu đồng/tuần. Ngoài ra Tổ Công tác xã hội đã tổ chức khám từ thiện cho trẻ em tại các huyện đảo, vùng xa và tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đã phát thuốc miễn phí, tặng quà giá trị trên 10 triệu đồng.

Đoàn Thanh niên phát động phong trào trồng cây xanh trong khuôn viên bệnh viện, nhiệt tình hưởng ứng các chương trình do Tỉnh đoàn, Đoàn TN Sở Y tế phát động. Bệnh viện có 190 Đoàn viên, chiếm tỷ lệ 83%.

2. Phát triển đồng bộ cả y tế phổ cập và y tế chuyên sâu; đẩy mạnh các hoạt động hướng về cơ sở, quan tâm chăm sóc sức khỏe đồng bào vùng khó khăn:

a) Công tác đào tạo, chỉ đạo tuyến:

Năm 2016 Bệnh viện được Sở Y tế giao nhiệm vụ chỉ đạo tuyến toàn diện TTYT huyện Cô Tô.

Đầu năm 2016 đã thực hiện khảo sát nhu cầu hỗ trợ chuyên môn cho hệ thống Sản, Nhi tại các đơn vị y tế trong tỉnh (Cô Tô, Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Bình Liêu, Ba Chẽ, Vân Đồn). Từ tháng 3/2016 đến nay đã phân công và cử trên 50 lượt cán bộ thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị (Móng Cái, Cô Tô).

Đã cử 02 bác sỹ đào tạo dài hạn Định hướng chuyên khoa I tại Trường Đại học Y Hải Phòng.

Cử 12 lượt cán bộ đi đào tạo nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ tại các bệnh viện tuyến Trung ương (Quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn; Cấp cứu nhi khoa nâng cao; Tình dục trẻ em-bình thường và bệnh lý; Đào tạo liên tục về nội tiết nhi khoa; Kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung; Chuyển giao công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm)

Đã đào tạo và cấp chứng chỉ cho 7 lượt cán bộ của các đơn vị (TTYT huyện Cô Tô, BVĐKKV Tiên Yên, BVDDK huyện Hải Hà).

b) Công tác khám, chữa bệnh lưu động:

* Tại thành phố Móng Cái:

Phối hợp cùng Chi đoàn BVĐKKV Móng Cái tổ chức khám chữa bệnh lưu động và thăm hỏi tặng quà các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại hai xã đảo Vĩnh Trung, Vĩnh Thực- thành phố Móng Cái trong 2 đợt (đợt 1- từ ngày 25 đến 26/3/2016 cho 750 người; đợt 2 từ 25-26/6/2016 cho 701 người).

Đã thực hiện khám các chuyên khoa: Nội khoa, Ngoại khoa, Sản khoa, Phụ khoa, TMH, RHM, Mắt; Khám sàng lọc một số bệnh lý sản phụ khoa, đặc biệt bệnh lý ung thư cổ tử cung; Khám sàng lọc bệnh lý tim bẩm sinh ở trẻ nhỏ; Tư vấn sức khoẻ sinh sản, chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Các trường hợp khám có nghi ngờ tổn thương cổ tử cung đều được soi cổ tử cung và lấy mẫu tế bào để thực hiện xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung; Các cháu bé có nghi ngờ bệnh lý tim bẩm sinh khi khám lâm sàng đều được thực hiện điện tim, siêu âm tim và tư vấn.

Đến thăm, tặng quà 12 gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại 2 xã đảo. Trong đó có một trường hợp vô cùng đặc biệt, có hoàn cảnh éo le, lại mắc bệnh trọng không đủ điều kiện đến bệnh viện chữa trị, lãnh đạo hai bệnh viện đã thống nhất đưa bệnh nhân vào đất liền, mổ cấp cứu tại BVĐKKV Móng Cái và chuyển về Bệnh viện Sản Nhi chăm sóc giảm nhẹ, mọi chi phí điều trị được hai bệnh viện trợ giúp.

* Tại huyện đảo Cô Tô:

Đã cử các bác sĩ, kỹ thuật viên, kỹ sư, gồm 20 thành viên của Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh đã thực hiện chương trình khám lưu động 2 đợt, đánh giá tổng quát tình hình sử dụng trang thiết bị y tế tại Trung tâm y tế huyện Cô Tô

Cử các kỹ sư khắc phục, sửa chữa các lỗi đơn giản, hiệu chỉnh các thông số một số thiết bị y tế của Trung tâm.

Thực hiện dọn vệ sinh, khử khuẩn tại phòng mổ, phòng làm tiểu phẫu, các phòng khám chuyên khoa như Răng-hàm-mặt, Tai-mũi-họng, phòng khám Sản phụ, siêu âm v.v...

* Tại huyện Vân Đồn:

Thực hiện khám sàng lọc cho người dân trực tiếp bàng các máy móc phương tiện tại chỗ như: Chụp X- Quang, đo điện tim, siêu âm, khám tai mũi họng, răng hàm mặt, khám nội ngoại tổng quát, khám trực tiếp, tư vấn cho các sản, phụ khoa. Từ đó, phát hiện các biểu hiện của bệnh và tư vấn cho người dân các cách phòng, chữa bệnh tại chỗ để đảm bảo sức khỏe, giảm được thời gian đi lại lên các bệnh viện tuyến trên.

Đoàn khám chữa bệnh lưu động của Bệnh viện đã thực hiện khám, tư vấn và phát thuốc cho hơn 700 người dân và trẻ em thuộc 3 xã đảo của huyện Vân Đồn.

3. Tăng cường chất lượng và đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và huy động các nguồn lực cho sự nghiệp chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Được phép của Sở Y tế, Bệnh viện đã thực hiện liên doanh, liên kết đặt trang thiết bị thực hiện các dịch vụ chuyên sâu: Máy xét nghiệm nước tiểu, máy xét nghiệm miễn dịch, máy sinh hóa, máy xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung v.v...

Chú trọng công tác cải cách hành chính và ứng dụng CNTT luôn được Ban Lãnh đạo và toàn bộ nhân viên coi là ưu tiên hàng đầu, là  giải pháp để xây dựng thương hiệu Bệnh viện. Đường dây nóng luôn luôn thường trực 24/7, đã tiếp nhận nhiều ý kiến góp ý, thắc mắc của người nhân và nhân dân, từ đó kịp thời giải đáp, hướng dẫn các thắc mắc cũng như điều chỉnh những vấn đề còn tồn tại từ ý kiến góp ý của người dân; Bệnh viện đã triển khai hòm phiếu góp ý tại nhiều điểm trong bệnh viện và thường xuyên lấy ý kiếm thăm dò trực tiếp tại các khoa phòng để đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh và phát hiện kịp thời những vi phạm của nhân viên y tế để kịp thời điều chỉnh những bất cập và có biện pháp xử lý vi phạm nghiêm khắc.

II. THỰC HIỆN NĂM NHÓM GIẢI PHÁP:

1. Xây dựng phát triển thương hiệu bệnh viện

Nhờ triển khai tích cực và có hiệu quả Đề án bệnh viện vệ tinh, đề án 1816 và thu hút, đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bệnh viện đã có những bước phát triển nhanh chóng về chuyên môn kỹ thuật, đến nay bệnh viện đã thực hiện được nhiều kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu về lâm sàng và cận lâm sàng của tuyến TW, giúp bệnh nhân được khám chữa bệnh bằng kỹ thuật cao ngay tại tỉnh, gần 98% bệnh nhân thuộc chuyên khoa Phụ Sản và Nhi khoa được khám và điều trị tại tỉnh không phải chuyển tuyến trên.

Duy trì tốt hoạt động vệ tinh từ Bệnh viện Phụ Sản Trung ương và Bệnh viện Nhi Trung ương. Thực hiện ký hợp đồng với các Bác sỹ của Bệnh viện Nhi TW, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương về làm việc, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật.

Thực hiện hợp đồng bảo trì các thiết bị giá trị lớn, kỹ thuật cao; Sửa chữa kịp thời các hạng mục công trình, chống xuống cấp. Đặt tiêu chí Bệnh Viện Xanh, Sạch, Đẹp làm mục tiêu trọng tâm.

Trong cuộc thi ảnh “Vì sức khỏe nhân dân” do Bộ Y tế tổ chức, Bệnh viện Sản Nhi đã vinh dự có tác phẩm đạt giải nhất cuộc thi với chủ đề “Niềm hy vọng” của tác giả Nguyễn Thế Thiêm. Giải Nhất cuộc thi ảnh khẳng định kết quả của kĩ thuật điều trị vô sinh đã được áp dụng thành công tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh và cũng là ca thụ tinh nhân tạo đầu tiên tại tỉnh Quảng Ninh. Từ thành công của kĩ thuật thụ tinh nhân tạo, thời gian tới, Bệnh viện sẽ triển khai thụ tinh trong ống nghiệm cho các cặp vợ chồng hiếm muộn - điều mà trước đây chỉ Bệnh viện Sản Trung ương và Bệnh viện Từ Dũ làm được, nhằm đem tới niềm vui, hạnh phúc cho nhiều gia đình, nâng cao hơn nữa kĩ thuật, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân của bệnh viện chuyên khoa sản, nhi đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh.

2. Phát triển nguồn nhân lực

Bệnh viện đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các cán bộ đi đào tạo chuyên môn, ngiệp vụ, nâng cao tay nghề. Tính đến nay, có khoảng 40 bác sỹ luân phiên đi học các khóa đào tạo ngắn hạn tại các bệnh viện: Phụ Sản TW, Nhi TW, Viện E, Viện Vệ sinh dịch tễ, Bệnh viện Nhiệt Đới TW, BVĐK tỉnh, trong đó có 01 BS đi đào tạo về Hỗ trợ sinh sản tại TP Hồ chí Minh; Tất cả các điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên, dược sĩ trong 02 đợt tuyển dụng đều được đi học, cập nhật kiến thức chuyên môn tại BV Phụ Sản TW, BV Nhi TW, Viện E… Ngoài ra trong thời gian được cử đi dào tạo, bệnh viện vẫn tạo điều kiện hỗ trợ 1 phần kinh phí cho cán bộ, nhân viên.

Bệnh viện thực hiện chính sách thu hút, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Bệnh viện xây dựng phụ cấp đãi ngộ đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đã giành tối thiểu 15% kinh phí từ khoản tiền thu nhập hỗ trợ tăng thêm để hỗ trợ tạo động lực phát triển nhanh lực lượng lao động chất lượng cao của bệnh viện.

Hiện nay, thu nhập trung bình của một bác sĩ tại tại bệnh viện khoảng 10 triệu đồng/tháng; thu nhập của một điều dưỡng hoặc nhân viên văn phòng khoảng 4-5 triệu đồng/tháng.

3. Phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị:

Bệnh viện được đầu tư trang thiết bị giai đoạn 1 với tổng trị giá 238 tỷ theo quyết định 2816/QĐ-UBND 31/10/2012. Gồm 3.930 trang thiết bị, trong đó: 2.808 TB chuyên dùng, 1.222 TB văn phòng.

Đã phát huy sử dụng tốt các trang thiết bị chuyên sâu được mua sắm từ nguồn vốn không tự chủ đúng tiến độ, đảm bảo đúng quy định pháp luật nhà nước.

Năm 2016 đang khẩn trương hoàn thiện các thủ tục đầu tư trang thiết bị chuyên sâu (IVF), Sơ sinh, Phẫu thuật tim mạch... tổng mức đầu tư 85 tỷ.

Được phép của Sở Y tế, Bệnh viện đã thực hiện xã hội hóa đặt trang thiết bị thực hiện các dịch vụ chuyên sâu: Máy xét nghiệm nước tiểu, máy xét nghiệm miễn dịch, máy sinh hóa, máy xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung, khám sàng lọc sơ sinh, sàng lọc trước sinh bằng DoubTest, TripleTest.

Thực hiện tiếp nhận, hoàn thành bảo hành toàn bộ các thiết bị, một số thiết bị chuyên dùng giá trị lớn đã được ký hợp đồng bảo trì, toàn viện đã mua bảo hiểm cháy nổ, thủy kích bắt buộc theo đúng qui định của bộ y tế.

Sửa chữa, chống xuống cấp một số hạng mục như nước ngầm nước thải, hệ thống xử lý nước, rác được hoạt động hoàn chỉnh...

4. Công tác chỉ đạo tuyến, phát triển chuyên môn y tế cơ sở

Bệnh viện có Bộ phận thực hiện công tác Chỉ đạo tuyến trực thuộc phòng Kế hoạch Tổng hợp, thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu: Chỉ đạo chuyên môn, kỹ thuật đối với tuyến dưới; Quản lý chuyển tuyến theo quy định của Bộ Y tế; Tổ chức sơ kết, tổng kết, giao ban công tác chỉ đạo tuyến với tuyến dưới.

Ngay từ đầu năm, Bệnh viện đã khảo sát thực trạng chuyên môn Sản phụ khoa và Nhi khoa của các đơn vị y tế trong tỉnh, lập kế hoạch cử bác sỹ, điều dưỡng hỗ trợ chuyên môn về lĩnh vực Sản- Nhi cho tất cả các bệnh viện, TTYT trong tỉnh và chỉ đạo tuyến toàn diện đối với TTYT huyện Cô Tô.

Bệnh viện đã mở các lớp đào tạo kiến thức chuyên môn cho cán bộ y tế các đơn vị trong tỉnh và cán bộ y tế bệnh viện gồm 13 lớp cho 350 học viên: nhằm nâng cao năng lực chẩn đoán, cấp cứu Sản Phụ và Nhi khoa, chuẩn hóa các quy trình kỹ thuật, chuyển tuyến an toàn….

5. Phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Bệnh viện triển khai thường quy các kỹ thuật lâm sàng, cận lâm sàng để phục vụ cho người bệnh như: Phẫu thuật nội soi điều trị vô sinh; Phẫu thuật nội soi cắt tử cung, cắt buồng trứng; PTNS một lỗ; PTNS lồng ngực trẻ dưới 12 tháng; các xét nghiệm: Xét nghiệm Real-time PCR chẩn đoán các chủng Virus, vi khuẩn; Xét nghiệm sàng lọc sơ sinh: bệnh G6PD, Suy giáp trạng bẩm sinh, sàng lọc ung thư sớm; Sàng lọc trước sinh: Double test và Triple test, siêu âm chẩn đoán trước sinh; Các xét nghiệm phục vụ hỗ trợ sinh sản: Xét nghiệm AMH đánh giá dự trững buồng trứng; Kỹ thuật đông tinh v.v...

Triển khai nhiều mô hình mới như: Đơn nguyên Tâm bệnh (hoạt động khám điều trị Tâm bệnhvà Phục hồi chức năng cho các trẻ bại não, trẻ tự kỷ); Đơn vị hỗ trợ sinh sản; tổ chức khám sàng lọc trước sinh, sơ sinh theo qui trình chuẩn đảm bảo nâng cao chất lượng dân số, tuân thủ đúng qui trình tiêm chủng với nhiều dịch vụ và tiêm chủng mở rộng; thực hiện 5 bước Chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh theo qui trình, tập huấn cho các đơn vị sơ sinh trong toàn tỉnh thực hiện qui trình của Bộ Y tế.

Bệnh viện đã thành lập Tổ QLCL, mọi hoạt động chăm sóc khách hàng đều được thực hiện 1 cách khoa học, đã tạo được uy tín cho người bệnh khi đến khám chữa bệnh.

III. KẾT QUẢ TỰ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN:

Thực hiện Công văn số 1545/SYT-NVY ngày 05/7/2016 của Sở Y tế, Bệnh viện đã lập kế hoạch và thành lập Đoàn tự kiểm tra 6 tháng đầu năm 2016, kết quả như sau:

1. Tổng số các tiêu chí được áp dụng đánh giá:    83/83 tiêu chí

2. Tỷ lệ tiêu chí áp dụng so với 83 tiêu chí:                    100%

3. Tổng số điểm của các tiêu chí áp dụng:            274 điểm

4. Điểm trung bình chung của các tiêu chí:           3,43 điểm

5. Kết quả chung chia theo mức:                

Các mức

Số tiêu chí đạt

Tỷ lệ đạt (%)

Mức 1

1

1,20

Mức 2

14

16,87

Mức 3

35

42,17

Mức 4

25

30,12

Mức 5

8

9,64

Tổng số tiêu chí đạt

83

100,00

(Bệnh viện xin gửi kết quả tự đánh giá chất lượng kèm theo)

IV. KHÓ KHĂN VÀ ĐỀ XUẤT:

1. Khó khăn:

Với 200 giường kế hoạch giao bệnh viện luôn quá tải, hiện tại bệnh viện thực kê tổng số 310 giường.

Tinh thần thái độ của một bộ phận nhỏ CBVC chưa thực sự làm hài lòng người bệnh: tinh thần thái độ tiếp xúc với BN chưa tốt gây bức xúc (bệnh viện đã có hình thức kỷ luật thích đáng).

2. Đề xuất: Đề nghị xét nâng quy mô bệnh viện lên 350 giường.

Trên đây là báo cáo kết quả hoạt động của Bệnh viện Sản Nhi 6 tháng đầu năm 2016.

Bệnh viện xin trân trọng báo cáo.

Kết quả Đánh giá tại Bệnh viện:

Ket qua tu Danh gia chat luong Benh vien 6 thang 2016 Chi tiet

Ket qua tu Danh gia chat luong Benh vien 6 thang 2016 Tong hop


Các bài viết khác